KHOPTISON

Phục hồi tái tạo mô sụn khớp.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phòng ngừa và điều trị. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phòng ngừa và điều trị. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2016

Bí quyết giúp bạn giảm đau đốt sống cổ

"Những cách giúp bạn giảm đau đốt sống cổ
Làm việc máy tính nhiều, ít vận động là một trong những nguyên nhân gây ra thoái đốt sống cổ.
Đây cũng là bệnh thường gặp nhất đối với dân văn phòng.
Nhân viên văn phòng là một trong những đối tượng có khả năng mắc chứng bệnh này cao nhất do thường xuyên ngồi một chỗ, ít vận động, ít thời gian nghỉ ngơi.
Chính vì thế, nếu không muốn bị đau cổ hay nặng hơn là thoái hóa đốt sống cổ, bạn cần tạo lập cho mình những thói quen bảo vệ sức khỏe ngay tại nơi làm việc. Đó có thể chỉ là những động tác luyện tập hay vươn vai rất đơn giản, không ngồi ì bên máy tính trong thời gian quá dài và kết hợp cùng một chế độ ăn uống khoa học.
Nếu đã thử nhiều cách mà cảm giác đau cổ vẫn không thuyên giảm, bạn nên nhanh chóng đến bệnh viện để kiểm tra, có hướng điều trị kịp thời trước khi quá muộn.
Dân văn phòng hay mắc thoái hóa đốt sống cổ do:
- Vị trí đặt tay trên bàn làm việc hay đối với máy tính quá cao hoặc quá thấp.
- Quá mệt mỏi.
- Vùng cổ và vùng gáy không được thường xuyên cử động, hoặc chỉ giữ nguyên một tư thế.
- Thường xuyên nhìn lên rồi lại nhìn xuống.
- Vị trí ngồi quá thấp so với bàn làm việc.
- Trong khi ngủ chỉ nằm 1 - 2 tư thế, không có thói quen chuyển mình.
- Làm việc kéo dài, ít vận động.
- Lựa chọn gối ngủ không phù hợp.
Biểu hiện thường gặp:
Khi bị thoái hóa đốt sống cổ bạn sẽ có một trong số những biểu hiện cơ bản như sau:
- Cổ cứng nhắc khó xoay chuyển kèm với dấu hiệu đau.
- Đau cổ sau đó lan xuống vai, đau ở các khớp cổ và vai.
- Đau đầu không rõ nguyên nhân.
- Trong một số ít những trường hợp, mất cảm giác khéo léo của tay, đôi khi cánh tay và bàn tay có thể bị tê liệt.
Để giảm đau và thư giãn vùng đốt sống cổ có thể kết hợp với các cách điều trị sau:
- Ghế làm việc phải có độ cao thích hợp so với bàn làm việc và máy tính. Không để ghế ngồi quá cao hay quá thấp.
- Giữ khoảng cách hợp lý từ tay đến bàn làm việc hay máy tính.
- Các chuyên gia khuyên bạn nên sử dụng máy tính có màn hình lớn, tối thiểu là từ 17 inch trở lên. Điều này không chỉ đem lại những hữu ích cho đôi mắt của bạn mà còn giúp các cơ cổ không bị căng, mỏi.
-  Khi ngủ hãy thường xuyên chuyển mình, tránh nằm chỉ một hoặc 2 tư thế sẽ rất dễ bị vẹo cổ. Không nằm sấp, bởi tư thế này sẽ khiến cho cổ bị gập xuống, rất dễ gây nên chứng thoái hóa đốt sống cổ.
- Ngồi cách màn hình vi tính 50-66 cm và đặt màn hình dưới tầm mắt khoảng 10 -20 độ. Không để tầm màn hình quá cao hoặc quá thấp hơn so với tầm mắt. Sắp xếp hợp lý nguồn ánh sáng, chọn những đồ nội thất không bị phản chiếu ánh sáng, giảm ánh sáng và sự chiếu sáng của màn hình máy tính. Chú ý đặt màn hình máy sao cho cùng bên với cửa sổ, sử dụng mành để che bớt ánh sáng, điều này cũng rất có lợi cho mắt.
- Bạn hãy để màn hình thẳng ngay trước mặt chứ đừng để lệch về một bên. Khi ngồi gần bạn nên chỉnh ghế sao cho 2 cẳng tay của bạn song song với nền nhà, 2 đùi vuông góc với cẳng chân và 2 bàn chân của bạn được đặt phẳng trên nền nhà. Bạn cũng nên nhớ luôn giữ thẳng lưng và 2 vai giữ ngang bằng. Nếu bạn sử dụng đồ kẹp hồ sơ dùng khi đánh máy thì kẹp này nên để càng sát màn hình càng tốt.
- Mát xa cổ cũng là một trong những cách giảm đau mỏi cho cổ rất hữu hiệu.
Mát - xa giúp giảm đau
Đầu tiên bạn hãy mát xa từ phần sau cổ, xoa bằng hai tay hoặc một tay. Lòng bàn tay áp sát vào cổ, di chuyển từ phần tóc ở gáy xuống lưng và phần khớp vai. Sau đó, dùng cạnh của lòng bàn tay và ngón cái bóp mạnh
Dùng mu lòng bàn tay day nhẹ từ gáy đến cổ. Thực hiện khoảng 1 - 2 phút. Dùng tay phải tìm đốt sống cổ thứ 7 (to hơn các đốt sống khác) và day xung quanh đốt sống đó.
Tiếp theo, đan hai tay vào nhau và để sau gáy. Ngẩng cằm lên, hít vào từ từ và đếm đến 10. Mắt mở, nhìn lên trần nhà. Khi làm động tác này, tay đóng vai trò là lực cản đầu đang ngẩng lên. Các cơ ở cổ căng hết mức. Thở ra trong 10 giây, cằm từ từ cúi xuống ngực. Dưới sức nặng của tay (lúc này vẫn đan chặt vào nhau để sau cổ), các cơ ở cổ giãn ra. Lặp lại động tác này 3 lần.
- Bạn cũng có thể dùng túi chườm nóng để chườm cũng sẽ giúp bạn loại trừ cảm giác đau đớn.
- Thuốc aspirin cũng là loại thuốc có tác dụng giảm đau nhất thời, bạn nên tham khảo ý kiến  bác sĩ về việc sử dụng loại thuốc này. Tuy nhiên, bạn không nên quá lạm dụng nó sẽ gây nên những mặt trái cho sức khỏe.
- Stress không chỉ gây nên cho bạn cảm giác rất căng thẳng, mệt mỏi về tâm lý mà còn khiến cho cảm giác đau đớn do chứng thoái hóa đốt sống cổ tăng lên. Chính vì thế, bạn nên bằng mọi cách khống chế và kiểm soát stress.
Minh Hằng (TH)

Chủ Nhật, 22 tháng 5, 2016

Mối liên quan giữa Hyaluronic và khớp

Hyaluronic và Khớp

Thoái hóa khớp là trình trạng bệnh lý của tuổi già, bệnh nặng thường khiến cho xương khớp đau nhức khi vận động. Người bệnh thường thấy đau buốt ở khớp ngay cả với những vận động thường ngày như khi cúi xuống, leo cầu thang hay thậm chí đứng lâu, mang xách đồ vật. Nguyên nhân là do độ nhầy trong ổ các khớp cạn kiệt. Vì thế, để giảm nhanh cảm giác đau thì việc bổ sung hoạt chất cần thiết giúp giữ ẩm, tăng độ nhầy cho các khớp được xem là giải pháp tối ưu nhất.
Acid hyaluronic là thành phần quan trọng của ổ khớp. Nhờ có tính chất nhớt và đàn hồi tùy theo lực tác động lên acid hyaluronic giống như một thứ dầu nhờn bôi trơn khớp, đệm giảm shock để bảo vệ khớp khi lực tác động mạnh. Khớp bình thường có hàm lượng acid hyaluronic vào khoảng 2.5 – 4.0mg/ml, nhưng nồng độ chỉ còn một nửa hoặc 2/3 khi khớp bị thoái hóa.
Tác dụng của acid hyaluronic trong điều trị bệnh thoái hóa khớp:
 Có rất nhiều thử nghiệm lâm sàng về tác dụng của acid hyaluronic trong điều trị bệnh viêm khớp thoái hóa được công bố trên thế giới.
Tác dụng của acid hyaluronic:
+Tác dụng kích thích hình thành acid hyaluronic nội sinh
+Tác dụng kháng viêm do có tác dụng dọn sạch các gốc tự do
+Tác dụng cơ học: chống sốc, bôi trơn.
+Tác dụng cải thiện mật độ tế bào sụn 
+Tác dụng giảm đau và cải thiện chức năng của khớp thoái hóa đã được FDA (Hoa Kỳ) thừa nhận và cho phép sử dụng trên bệnh nhân bị thoái hóa khớp đặc biệt là ở những trường hợp chưa bị biến dạng xương.
thuocthang.vn

Nguyên nhân và cách phòng tránh thoái vị đĩa đệm

Nguyên nhân dẫn đến thoái vị đĩa đệm
Thoát vị đĩa đệm gây nên những cơn đau khó chịu, thường xuyên tái phát, làm giảm khả năng vận động, ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nếu không điều trị bệnh có thể gây biến chứng tàn phế như teo cơ, liệt,… Vậy nguyên nhân và cách phòng tránh căn bệnh này như thế nào?
Nguyên nhân gây bệnh
Có nhiều nguyên nhân gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống, trong đó chủ yếu là do chấn thương cột sống như tai nạn giao thông, tai nạn lao động; tư thế làm việc không đúng cách;…
Ở những người trên 30 tuổi, cột sống bắt đầu thoái hóa đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách khi nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống. Hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng sai cách. Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên. Việc mang vác nặng sai tư thế này dễ gây chấn thương đốt sống lưng.
Nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi làm việc không đúng cách gây cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hóa khớp, trật khớp… Ngoài ra, các bệnh lý cột sống bẩm sinh như gai đôi cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi gây thoát vị đĩa đệm.
Thoát vị đĩa đệm xảy ra bất kỳ phần nào của cột sống như phần cột sống cổ, cột sống thắt lưng, trong đó chủ yếu thoát vị cột sống thắt lưng. Nếu không được điều trị có thể để lại những hậu quả và những biến chứng nguy hiểm cho người bệnh. Bệnh nhân có thể bị tàn phế suốt đời do bị liệt trong trường hợp đĩa đệm thoát vị chèn ép tủy cổ. Khi bị chèn ép các dây thần kinh vùng thắt lưng cùng, bệnh nhân có thể bị chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn. Ngoài ra bệnh nhân bị teo cơ các chi nhanh chóng, khiến sinh hoạt bị ảnh hưởng nghiêm trọng, thậm chí mất khả năng lao động.
thuoc-chua-va-dieu-tri-benh-thoat-vi-dia-dem.jpeg
Hình ảnh thoát vị đĩa đệm
Các biện pháp phòng tránh
- Luôn duy trì chế độ ăn uống, sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi hợp lý; thường xuyên tập thể dục rèn luyện đề có một cơ thể khỏe mạnh và cột sống vững chắc.
- Giữ gìn tư thế cột sống đúng trong sinh hoạt hằng ngày (ngồi học, ngồi làm việc, mang vác vật nặng đúng cách,..). Trẻ em cần ngồi học đúng tư thế, tránh mang vác nặng, điều đó giúp phòng tránh tật gù vẹo cột sống, là một yếu tố nguy cơ gây thoát vị đĩa đệm. Cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Ngồi lâu kéo dài trong tư thế gò bó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến cột sống thắt lưng và cũng là yếu tố nguy cơ thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Do vậy sau khi ngồi làm việc khoảng 1 giờ cũng nên đứng dậy nghỉ ngơi khoảng 10 phút.
- Hạn chế mọi nguy cơ bị chấn thương cho cột sống khi lao động, tham gia giao thông, các vận động, động tác thể thao quá mức và kéo dài,…
Theo suckhoevadoisong.net

Bài tập vật lý trị liệu cho bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Vật lý trị liệu cho bệnh nhân bị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng

Những bài tập vật lý trị liệu để giảm đau và góp phần điều trị bệnh thoát vị đĩa đệm. Thoát vị đĩa đệm là một dạng bệnh thường gặp ở cột sống, nguyên nhân thường do các đĩa đệm bị thoái hóa ở tuổi trung niên (30-50 tuổi). Ngày nay thoát vị đĩa đệm còn xảy ra ở lứa tuổi rất trẻ do sinh hoạt lao động, chơi thể thao, sai tư thế khi làm việc, do tai nạn… tạo thuận lợi cho đĩa đệm thoát ra ngoài gây chèn ép dây thần kinh và tủy sống. Vị trí thường bị thoát vị đĩa đệm là cột sống cổ và thắt lưng.
11111-300x247.jpg

Thoát vị đĩa đệm ở cột sống thắt lưng: gây mỏi cơ, tê và đau một chân hoặc hai chân tùy theo đĩa đệm chèn ép một hoặc hai bên chạy dọc từ vùng thắt lưng xuống bờ ngoài bàn chân .Chẩn đoán chính xác dựa vào chụp cộng hưởng từ (MRI) sẽ biết được mức độ chèn ép, từ đó có cách điều trị nội khoa hoặc phẫu thuật, và một phương pháp không thể thiếu là điều trị bằng vật lý trị liệu. Phẫu thuật ngoại khoa chỉ được chỉ định khi đĩa đệm thoát vị có mảnh vỡ hoặc thoát vị đĩa đệm gây hội chứng chùm đuôi ngựa (biểu hiện bí đại, tiểu tiện, mất cảm giác đau xung quanh hậu môn và bộ phận sinh dục); có liệt chi; đau quá mức thuốc giảm đau không hiệu quả; sau khoảng 2- 3 tháng áp dụng các biện pháp điều trị nội khoa đúng phương pháp mà không có kết quả.

Điều trị vật lý trị liệu
Các chuyên viên vật lý trị liệu sẽ cho người bệnh kéo giãn cột sống. Tùy theo trọng lượng người bệnh và tình trạng cấp tính hay mãn tính mà cho kéo giãn ngắt quãng hay liên tục.
Các phương pháp điều trị giảm đau bao gồm chiếu thấu nhiệt vi sóng, dùng một số dòng điện giảm đau như dòng giao thoa, dòng ten, siêu âm giảm đau và giảm co cứng cơ, chiếu đèn hồng ngoại. Đặc biệt, người bệnh sẽ được hướng dẫn các bài tập kéo giãn cột sống để tạo thuận lợi cho đĩa đệm trở về vị trí cũ, các bài tập mạnh cơ lưng, cơ bụng để giữ vững cột sống.
Sau khi đĩa đệm trở về vị trí cũ, người bệnh sẽ không còn cảm giác tê, đau nhức hay khó chịu. Người bệnh vẫn có thể lao động nặng nhưng cần chú ý tránh các tư thế xấu, khi khiêng đồ vật nặng phải hạ hai chân (vị trí như đứng tấn), khi nhặt đồ vật rơi xuống đất cần bước một chân trước một chân sau rồi hạ thấp hai đầu gối dùng tay lấy đồ vật, cố gắng giữ lưng luôn ở vị thế thẳng.  Khi chuyển vị thế từ nằm ngửa sang ngồi dậy phải chuyển qua nằm nghiêng rồi chống tay ngồi dậy và ngược lại, không xoay cột sống nhanh và mạnh một cách đột ngột.
Các bài tập kéo giãn cột sống, bài tập mạnh cơ lưng, cơ bụng: bao gồm các động tác sau:
Động tác 1: Người bệnh nằm ngửa, gập hông gập gối một chân, hai tay đan chéo ép chân sát bụng, giữ lại 10 giây rồi đổi bên, lặp lại mỗi bên 15 lần.
Động tác 2: Người bệnh nằm ngửa, gập hông gập gối hai chân, hai tay đan chéo ép chân sát bụng, giữ lại 10 giây, nghỉ rồi lặp
Động tác 3: Người bệnh nằm ngửa, gập hông gập gối hai chân, hai bàn chân vẫn còn chạm đất, ấn lưng xuống nệm, giữ lại 10 giây, nghỉ rồi lặp lại 15 lần.
Động tác 4: Người bệnh nằm ngửa, gập hông gập gối hai chân, hai bàn chân vẫn còn chạm đất, nâng mông cao khỏi nệm, giữ 10 giây, nghỉ rồi lặp lại 15 lần.
Động tác 5: Người bệnh nằm ngửa, gập hông gập gối hai chân, hai bàn chân vẫn còn chạm đất, hai khuỷu tay chống xuống nệm, người bệnh ưỡn ngực và ưỡn cổ ra sau, giữ lại lúc nào thấy hơi khó chịu nghỉ rồi lặp lại 15 lần.
Động tác 6: Người bệnh nằm ngửa, hai chân đạp thành vòng tròn trên không như đạp xe đạp, lúc nào mỏi thì nghỉ rồi lặp lại 15 lần.
Động tác 7: Người bệnh nằm ngửa, gập hông gập gối hai chân, hai tay đặt trên hai đầu gối, hai chân cố gắng co lên, đồng thời hai tay đẩy xuống, gồng cơ giữ lại 10 giây, nghỉ rồi lặp lại 15 lần.
Động tác 8: Người bệnh quỳ gối và chống hai tay xuống nệm, lưng cong lên như lưng con mèo, giữ lại 10 giây rồi hạ lưng xuống, lặp lại 15 lần.
Động tác 9: Người bệnh quỳ gối và chống hai tay xuống nệm (tư thế quỳ 4 điểm), hạ từ từ hai mông chạm gót chân rồi giữ lại, hai tay cố gắng bò thẳng về phía trước, lúc nào mỏi thì nâng mông lên rồi lặp lại 15 lần.
Động tác 10: Người bệnh quỳ gối và chống hai tay xuống nệm (tư thế quỳ 4 điểm), tay bên phải giơ thẳng về trước kết hợp với chân bên trái duỗi ra sau giữ lại 10 giây rồi đổi bên, lặp lại 15 lần.
Làm 10 động tác thì được tính một đợt, mỗi ngày tập từ 2-3 đợt tùy theo tình trạng sức khỏe. Chú ý giai đoạn cấp khi còn đau lưng không nên  tập. Chỉ tập khi có chỉ định của bác sĩ. Khi tập nếu động tác nào gây đau hay khó chịu thì ngưng động tác đó và báo cho bác sĩ. Sau khi hết đau, người bệnh nên tiếp tục duy trì các bài tập để giúp cột sống vững chắc hơn, phòng ngừa bệnh tái phát.
(Nguồn: sưu tầm)

5 tư thế YOGA giúp chữa đau lưng

Năm thế yoga chữa đau lưng

Dưới đây là chùm bài tập đơn giản gồm 5 thế yoga sẽ giúp bạn giảm nhẹ những cơn đau ở lưng dưới.
Thế trái núi
http://khangan.vn/images/stories/5theyoga1.jpg
 
1 Đứng thẳng, hai bàn chân sát nhau, hai bàn tay buông dọc và úp vào hai bên thân.
2 Bám chặt hai bàn chân trên đất, thót bụng vào, kéo giãn hai chân và thân người về phía trên.
3 Nâng xương ức và mở rộng lồng ngực.
4 Hít thở nhẹ nhàng.

Thế tam giác
http://khangan.vn/images/stories/5theyoga2.jpg
 
1 Đứng thế trái núi: Hai tay thẳng và xuôi xuống hai bên hông .
2 Hít vào. Dang hai chân ra xa vừa tầm đồng thời đưa hai tay song song với mặt đất,
hai bàn tay úp xuống.
3 Quây bàn chân phải ra ngoài. 
4 Gót chân phải ngang hàng với bàn chân trái.
5 Thở ra khi nghiêng mình sang bên phải. Hai tay thẳng hàng .
6 Hít vào khi kéo giãn nách. 
7 Thở ra khi quay đầu nhìn bàn tay trái.
8 Trở về vị trí cũ. Tập lại với phía bên kia.
+ Ngoài tác dụng giảm đau lưng dưới, tập luyện thường xuyên thế này còn giúp giảm mỡ ở eo.
Thế con bướm
http://khangan.vn/images/stories/5theyoga3.jpg
 
1 Ngồi khoanh chân, giữ lưng và cổ thẳng, tay đặt phía trước.
2 Hai bàn tay ôm lấy đầu gối, thả tay xuống từ từ cho đến khi ngực gần chạm chân. Gót chân không được nhấc lên.
3 Hít vào khi thẳng người lên, tay thả khỏi đùi và đầu gối tự nâng lên.
4 Làm đi làm lại như thế từ 20-30 lần. Khi thực hiện động tác, mắt nhắm lại và chỉ mở ra khi động tác kết thúc.
Thế rắn hổ mang
http://khangan.vn/images/stories/5theyoga4.jpg
 
1 Nằm sấp trên mặt đất. Hai chân chụm lại. Hai tay xuôi xuống vai. Hai bàn tay úp xuống. Để trán chạm đất.
2 Hít vào. Nhấc đầu lên từ từ. Chống hai tay và ưỡn người ra sau. Co hai khuỷu tay lại. 
3 Thở hết hơi ra. Từ từ đưa người xuống, trở lại bước đầu tiên.
4 Thế này kích thích tiêu hóa, tăng cường sự lưu thông khí huyết ở lưng, hông, cổ.
Thế lạc đà
http://khangan.vn/images/stories/5theyoga5.jpg
 
1 Quỳ gối. Hai chân và bàn chân chạm nhau. 
2 Chống hai tay lên hông.
3 Hít vào và ngửa đầu ra sau.
4 Thở ra đồng thời đưa một tay xuống gót chân.
5 Kéo giãn người ra sau.
6 Hít vào và kéo thẳng lưng lại.
7 Tập lại với tay bên kia
(sưu tầm)

Chuẩn đoán và điều trị bệnh loãng xương

"Chuẩn đoán và điều trị loãng xương (Osteoporosis)
I.     ĐẠI CƯƠNG 
    Loãng xương là một rối loạn chuyển hoá của bộ xương làm tổn thương sức mạnh của xương đưa đến tăng nguy cơ gẫy xương cho con người. Sức mạnh của xương bao gồm sự toàn vẹn cả về khối lượng và chất lượng của xương.

Khối lượng xương được biểu hiện bằng :-        Mật đô khoáng chất của xương (Bone Mineral Density – BMD)
-        Khối lượng xương (Bone Mass Content – BMC)
Chất lượng xương phụ thuộc vào :-        Thể tích xương
-        Vi cấu trúc của xương
          +        Thành phần chất nền của xương
          +        Thành phần chất khoáng của xương
-        Chu chuyển xương (Tình hình sửa chữa và tình trạng tổn thương vi cấu trúc của xương)
Nguyên nhân (với loãng xương tiên phát hay loãng xương người già)
-        Mất cân bằng giữa hormon sinh dục (có xu hướng giảm dần theo tuổi) và hormon vỏ thượng thận (không thay đổi)
-       Giảm hấp thu Canxi ở ruột làm Canxi máu thấp, kích thích tiết hormon cận giáp, hormon này sẽ kích thích các huỷ cốt bào hoạt động.
-        Lão hoá các tế bào tạo xương
Mã số (theo ICD 10)       Loãng xương  kèm gãy xương  M 80
                                           Loãng xương không gãy xương M 81

II.  TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG
     Loãng xương là bệnh diễn biến âm thầm không có triệu chứng lâm sàng
     Khi có triệu chứng, thường giảm tới 30 % khối lượng xương, có thể xảy ra từ từ, tự phát hoặc sau một chấn thương dù nhẹ hay một tư thế không thuận lợi
    1.  Đau xương 
        -        Đau âm ỉ, mơ hồ, có khi đột ngột dữ dội sau chân thương, tăng khi vận động, xoay trở, ngồi lâu, đứng lâu, giảm khi nằm nghỉ.
        -        Có thể đau toàn thân, nhưng tập trung nhiều ở những vùng chiụ tải của cơ thể : cột sống thắt lưng, cột sống cổ, vùng chậu hông, khớp gối…)
    2.  Hội chứng kích thích các rễ thần kinh : vùng cột sống cổ, cột sống lưng và thắt lưng.
    3.  Biến dạng cột sống
         -        Gù, vẹo cột sống, giảm chiều cao … do các đốt sống bị lún, xẹp
         -        Co cứng các cơ cạnh cột sống, đau và hạn chế các động tác của cột sống.
    4.  Dấu hiệu toàn thân : 
         -        Đau cơ, mỏi cơ, co cứng cơ do thiếu Canxi máu
         -        Các trạng thái bệnh thường mắc ở tuổi già : mập, giãn tĩnh mạch, thoái hoá khớp, cao huyết áp, tiểu đường…
    5.  Tiến triển : bệnh diễn biến kéo dài, tăng dần, có thể đột ngột nặng lên sau chấn thương
    6.  Biến chứng : 
         -       Gẫy xương sau chấn thương rất nhẹ, thậm chí không rõ chấn thương : gãy đầu dưới xương quay, gãy cổ xương đùi, gãy lún đốt sống (lưng và thắt lưng)
         -        Chèn ép các rễ thần kinh : cánh tay, liên sườn, thắt lưng – hông…

 III.  TRIỆU CHỨNG CẬN LÂM SÀNG
 
      1.  Xquang quy ước : 
         -        Xương tăng thấu quang (đốt sống hình bao diêm hay đốt sống bị đóng khung)
         -        Biến dạng thân đốt sống : xẹp, lún, rạn nứt
         -        Thân xương mỏng, ống tuỷ lớn
         -        Đánh giá mức độ loãng xương bằng 2 chỉ số Barnett & Nordin và Rénier
       -        Đo Khối lương xương khoáng chất của xương (BMC), tỷ trọng khoáng chất của xương (BMD) bằng phương pháp đo hấp thu tia năng lượng tia X kép (Dual Energy Xray Absorptiometry - DXA) để, dự báo nguy cơ loãng xương, đánh giá mức độ loãng xương, dự báo nguy cơ gãy xương và theo dõi điều trị.      
     2.  CT Scan hoặc MRI để đo mật độ xương đặc biệt ở cột sống
   3.  Định lượng Hydroxypolin, Pyridinolin tự do và toàn phần (PYD, Deoxypyridinolin tự do và toàn phần (DPD), N- telopeptides liên kết chéo (NTX), C- telopeptide liên kết ngang CTX) trong nước tiểu để đánh giá mức độ huỷ xương
     4.  Định lượng Osteocalcin, Bone Specific Alkaline Phosphatase (BSAP) trong máu để đánh giá quá trình tạo xương
     5.  Các xét nghiệm sinh hoá máu
        -        Canxi máu, canxi niệu
        -        Các nghiệm kiểm tra tuyến cận giáp
        -        Phosphatase Alcaline
        -        Định lượng các hormon sinh dục nữ
        -        Định lượng Cortison máu

IV.  CHẨN ĐOÁN
 
     1.  Triệu chứng lâm sàng
     2.  Tuổi, giới
     3.  Các yếu tố nguy cơ
     CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA BỆNH LOÃNG XƯƠNG     Bệnh Loãng xương sẽ trở nên nặng nề hơn, sớm hơn, nhiều biến chứng hơn… nếu người bệnh có thêm một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ dưới đây :
     -       Kém phát triển thể chất từ khi còn nhỏ, đặc biệt là Còi xương, Suy dinh dưỡng, chế độ ăn thiếu Protid, thiếu Canxi hoặc tỷ lệ Canxi/Phospho trong chế độ ăn không hợp lý, thiếu vitamin D hoặc cơ thể không hấp thu được vitamin D... vì vậy khối lượng khoáng chất đỉnh của xương (PBM) ở tuổi trưởng thành thấp, đây được coi là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh Loãng xương.
     -        Tiền sử gia đình có cha, mẹ bị loãng xương, tiền sử bản thân có gãy xương
     -        Ít hoạt động thể lực (Hoạt động thể lực thường xuyên sẽ giúp cho cơ thể đạt đươc khối lượng xương cao nhất lúc trưởng thành), ít hoạt động ngoài trời (các tiền vitamin D không trở thành vitamin D nên ảnh hưởng tới việc hấp thu canxi).
     -        Có thói quen sử dụng nhiều rượu, bia, càphê, thuốc lá…làm tăng thải canxi qua đường thận và giảm hấp thu canxi ở đương tiêu hóa.
     -        Bất động quá lâu ngày do bệnh tật (chấn thương cột sống, phải bất động), do nghề nghiệp (những người du hành vũ trụ khi ở trong tàu vũ trụ đi ra ngoài không gian)...vì khi bất động lâu ngày các tế bào huỷ xương tăng hoạt tính.
     -           Bị mắc một số bệnh :
                  +        Thiểu năng các tuyến sinh dục nam và nữ  (suy buồng trứng sớm, mãn kinh sớm, cắt buồng trứng, thiểu năng tinh hoàn…)
                    +        Bệnh mãn tính đường tiêu hoá làm hạn chế hấp thu canxi, vitamin D, protid...
                    +        Bệnh nội tiết : cường tuyến giáp, cường tuyến cận giáp, cường tuyến vỏ thượng 
                    +        thận, tiểu đường... ảnh hưởng chuyể hoá calci và sự tạo xương.
                    +        Bệnh suy thận mãn hoặc phải chạy thận nhân tạo lâu ngày gây mất nhiều calci qua đường tiết niệu.
                    +        Các bệnh xương khớp mãn tính đặc biệt là VKDT và Thoái hoá khớp
                    +        Phải sử dụng dài hạn một số thuốc : chống động kinh (Dihydan), thuốc chữa bệnh tiểu đường (Insulin), thuốc chống đông (Heparin) và đặc biệt là các thuốc kháng viêm nhóm Corticosteroid (Corticosteroid một mặt ức chế trực tiếp quá trình tạo xương, mặt khác làm giảm hấp thu calci ở ruột, tăng bài xuất calci ở thận và làm tăng quá trình huỷ xương).
    4.  Xquang và xét nghiệm
         -       Xquang :  Cột sống thắt lưng thẳng, nghiêng để phát hiện các dấu hiệu  giảm thấu quang, dấu hiệu gãy, lún, xẹp các thân đốt sống
         -        BMD :       Xương bình thường              T score từ  – 1 SD  trở lên
                                     Thiếu xương (Osteopenia)    T score trên  – 1 SD  đến – 2,5  SD
                                     Loãng xương (Osteoporosis) T score từ  – 2,5  SD trở xuống
                                     Loãng xương nặng                 T score dưới  – 2,5 SD + TS gẫy xương
         -        Canxi và vitamin D trong máu thường thấp
    5.  Biến chứng gãy xương hoặc chèn ép rễ thần kinh
V.   ĐIỀU TRỊ 
    1.      Các điều trị ngoài thuốc (Dự phòng và Điều trị )
             -        Chế độ ăn uống : bổ sung nguồn thức ăn giầu canxi sớm (1.000-1.500mg hàng ngày, từ các nguồn : thức ăn, sữa và dược phẩm)
             -        Chế độ sinh hoạt : tăng cường vận động, tránh té ngã
    2.      Điều trị bằng thuốc  
   Các thuốc chống hủy xương
, làm giảm hoạt tính tế bào huỷ xương (Osteoclasts)
             -         Liệu pháp giống hormon  (cho Loãng xương sau mãn kinh)
                   Raloxifen (chất điều hoà chọn lọc thụ thể Oestrogen - SEMR) : 60 mg hàng ngày
                  Tibolone có tác dụng giống hormon 2,5 mg uống hàng ngày
             -        Calcitonine  (từ cá hồi) 100 UI  chích dưới da hoặc xịt 200 UI qua niêm mạc mũi hàng ngày
             -        Bisphosphonates:   
                               Alendronate   70 mg uống sáng sớm, bụng đói, một tuần uống một lần   
                               Risedronate   35 mg uống sáng sớm, bụng đói, một tuần uống một lần
                                                     150 mg uống sáng sớm, bụng đói, một tháng uống một lần
                               Zoledronic Acid  5 mg Truyền TM một năm một lần
    Các thuốc tăng tạo xương               -        Strotium ranelate : 2g uống ngày một lần vào buổi tối, là thuốc có tác dụng kép, vừa tăng tạo xương vừa chống hủy xương, được cho là có tác dụng giống sinh lý
              -         Parathyroid hormon : rPTH  2 mg tdd / ngày, là thuốc đầu tiên được công nhận là thuốc có tác dụng tăng tạo xương, thường dùng cho các trường hợp bất thường về tạo xương.  
    Các thuốc bổ xung do chế độ ăn không đầy đủ                -        Canxi 500 – 1.500 mg hàng ngày
             -       Vitamin D 800 -  1.000 UI (hoặc chất chuyển hoá của vitamin D – Calcitriol, thường giành cho các bệnh nhân suy thận không chuyển hóa được vitamin D)      
    Các thuốc khác               -        Menatetrenone (Vitamin K2) ức chế osteocalcin
              -        Thuốc làm tăng quá trình đồng hoá : Deca Durabolin và Durabolin
   Các thuốc giảm đau           -        Giảm đau đơn thuần
           -        Thuốc kháng viêm giảm đau không steroids
 3.  Chế độ sinh hoạt tập luyện, ăn uống     -        Dụng cụ, nẹp chỉnh hình (cho cột sống) giảm sự tỳ đè lên cột sống, đầu xương.
    -        An uống đầy đủ chất đặc biệt Canxi, Vitamin D, Protide
    -        Tăng cường vận động
    -        Tránh té ngã
    -        Tránh thừa hoặc thiếu cân
    -        Tránh các yếu tố nguy cơ : thuốc lá,  quá nhiều café, rượu
   ..
VI.  THEO DÕI & TIÊN LƯỢNG-        Bệnh nhân phải được điều trị lâu dài 
-         Đo khối lượng xương mỗi năm để theo dõi kết qủa điều trị (PP DXA)
-       Nếu có biến chứng gẫy cổ xương đùi, gẫy lún đốt sống … chi phí điều trị sẽ rất cao, kết qủa điều trị sẽ hạn chế (cộng thêm chi phí phẫu thuật thay chỏm xương đùi, thay khớp háng toàn bộ  hay phục hồi chiều cao đốt sống…)
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.           Johnell et al. International Osteoporosis Foundation Annual Report 2002, 2006, 2008
2.          LeBoff M.S.  Metabolic Bone Disease. Textbook of Rheumatology. Fith Edition 1563 – 1580, 1997.
3.          Cummings S.  Osteoporosis, hip fractures and the biology of aging. Osteoporosis International  Press April  2010 
4.         Hochberg M.C. Burden of Osteoarthritis and Osteoporosis. The Third International Symposium on Clinical and Economic Aspects of Osteoarthritis and Osteoporosis. Barcelona, Spain – Nov  2002.
5.          Geusens P.  Osteoporosis : Diagnosis and guidelines . Annual European Congress of Rheumatology, 11. Berlin, Germany, 9 – 12  June, 2004.
6.       Lane N.E. Phathogenic mechanisms of osteoporosis : therapeutic targets for the futute. Annual European Congress of Rheumatology, 11. Berlin, Germany, 9 – 12  June, 2004.
7.        Favus M. J. Bone Density Reference Data. Primer on the Metabolic Bone Diseases and Disorders of Mineral Metabolism. 3nd Edition, 463 – 466, 1996
8.            Lê Anh Thư . “Loãng xương : một dịch bệnh âm thầm” (“Osteoporosis :  the silent epidemic disease"). Hội nghị Chuyên đề Loãng xương và bệnh Cột sống. Bệnh viện Chợ Rẫy, tháng 11 năm 2003
9.           Lê Anh Thư  và CS. Điều Trị  Loãng xương tại Bệnh Viện Chợ Rẫy : Thuận lợi, khó khăn và giải pháp. Hội thảo chuyên đề Giảm đau trong Loãng xương. TP Hồ Chí Minh 9/2004. 
10.         Lê Anh Thư và CS. Tình hình Loãng xương tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Báo cáo tại Hội nghị chuyên đề về Bệnh Loãng xương tại Bệnh viện Chợ Rẫy 12/2004
11.          EULAR Congress News. 9th, 10th Annual European Congress of Rheumatology. June 2008 Paris, June 2009 Denmak
12.          The Rheumatologist. Volume 2 Number 6 June 2009
13.          Second Strong Bone Asian Conference 2008. HoChiMinh City 25 - 26 July 2008
14.          The European Journal of Health Economics. Volume 8. Supplement 2  Jan 2009

Thuocthang.vn